Quán karaoke không được mở cửa sau 0h, vũ trường sau 2h sáng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 54/2019/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường. 

Theo đó, dịch vụ karaoke là dịch vụ cung cấp âm thanh, ánh sáng, nhạc, lời bài hát và hình ảnh thể hiện trên màn hình phục vụ hoạt động ca hát tại cơ sở đủ điều kiện kinh doanh.

Dịch vụ vũ trường là dịch vụ cung cấp sàn nhảy, sân khấu, âm thanh, ánh sáng phục vụ hoạt động khiêu vũ, ca hát hoặc chương trình nghệ thuật tại cơ sở đủ điều kiện kinh doanh.


Không đặt chốt cửa bên trong phòng hát karaoke

Trong đó, Nghị định quy định điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke là doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật.

Bảo đảm các điều kiện về phòng, chống cháy nổ và an ninh, trật tự theo quy định tại Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.


Ngoài ra, doanh nghiệp, hộ kinh doanh dịch vụ karaoke phải đảm bảo phòng hát phải có diện tích sử dụng từ 20 m2 trở lên, không kể công trình phụ.

Để đảm bảo an toàn, các phòng hát không được đặt chốt cửa bên trong hoặc đặt thiết bị báo động trừ các thiết bị báo cháy nổ.

Doanh nghiệp, hộ kinh doanh khi kinh doanh dịch vụ karaoke chỉ được được sử dụng các bài hát phổ biến, lưu hành. Chấp hành pháp luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật.

Cung cấp trang phục, biển tên cho người lao động và bảo đảm đủ điều kiện cách âm, âm thanh thoát ra ngoài phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn.

Khi kinh doanh dịch vụ karaoke phải tuân thủ quy định về kinh doanh rượu, tuân thủ quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá và quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, bản quyền tác giả, hợp đồng lao động, an toàn lao động, bảo hiểm cũng như phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định của pháp luật khác có liên quan.

Ngoài trách nhiệm quy định nêu trên, doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh dịch vụ karaoke có trách nhiệm bảo đảm hình ảnh phù hợp lời bài hát thể hiện trên màn hình (hoặc hình thức tương tự) và văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam; không được hoạt động từ 0h đến 8h sáng.

Vũ trường được hoạt động đến 2h sáng

Ngoài quy định điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke, Nghị định cũng quy định cụ thể điều kiện kinh doanh dịch vụ vũ trường.

Theo đó, đối tượng kinh doanh vũ trường là doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định pháp luật.

Vũ trường phải bảo đảm các điều kiện phòng, chống cháy nổ và an ninh trật tự, phòng vũ trường phải có diện tích sử dụng từ 80 m2 trở lên, không kể công trình phụ và không được đặt chốt cửa bên trong phòng vũ trường hoặc đặt thiết bị báo động trừ các thiết bị báo cháy nổ.

Về địa điểm kinh doanh, vũ trường phải cách trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, di tích lịch sử - văn hóa từ 200 m trở lên.

Ngoài trách nhiệm giống như kinh doanh dịch vụ karaoke, doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh dịch vụ vũ trường không được hoạt động từ 2h đến 8h sáng. So với quy định của Nghị định 103/2009/NĐ-CP Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng, thì thời gian hoạt động của vũ trường tăng thêm 2 giờ, trước đây Không được hoạt động sau 0h đêm đến 8h sáng.

Doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh dịch vụ vũ trường không được cung cấp dịch vụ cho người chưa đủ 18 tuổi và trường hợp có chương trình biểu diễn nghệ thuật phải thực hiện theo quy định của pháp luật về biểu diễn nghệ thuật.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/9/2019.

Quán karaoke không được mở cửa sau 0h, vũ trường sau 2h sáng Quán karaoke không được mở cửa sau 0h, vũ trường sau 2h sáng Reviewed by Pháp luật Toàn cầu on June 21, 2019 Rating: 5

No comments:

Powered by Blogger.